This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

Hiển thị các bài đăng có nhãn benh lao. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn benh lao. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 26 tháng 3, 2013

Tổng hợp bệnh lao và những điều cần biết

Tổng hợp bệnh lao và những điều cần biết

Bệnh lao là tình trạng nhiễm vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis, thường gặp nhất ở phổi nhưng cũng có thể ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương (lao màng não), hệ bạch huyết, hệ tuần hoàn (lao kê), hệ niệu dục, xương và khớp.
Hiện nay lao là bệnh nhiễm khuẩn chính và thường gặp nhất, ảnh hưởng đến 2 tỉ người tức 1/3 dân số, với 9 triệu ca mới mỗi năm, gây 2 triệu người tử vong, hầu hết ở các nước đang phát triển.
Hầu hết (90%) các trường hợp nhiễm khuẩn lao là tiềm ẩn không triệu chứng. 10% những người này trong cuộc đời họ sẽ tiến triển thành bệnh lao có triệu chứng, và nếu không điều trị, nó sẽ giết 50% số nạn nhân. Lao là một trong 3 bệnh truyền nhiễm gây tử vong cao nhất trên thế giới: HIV/AIDS giết 3 triệu người mỗi năm, lao giết 2 triệu, và sốt rét giết 1 triệu.



Bệnh lao vúXem thêm: Bệnh lao có lây khôngBệnh l ...

Bệnh lao có lây không?Bệnh lao là tình trạng nhi ...

Bệnh lao lây qua đường nàoXem thêm: Bệnh lao não ...

Bệnh lao nãoLao màng nãoMục tiêu Trình bày ...

Ăn uống cho người bị bệnh laoXem thêm: Phát ...

Phát hiện gien kiểm soát bệnh laoXem thêm: ...

Bệnh lao ở người cao tuổiXem thêm: CÁC BIỆN ...

CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG TRÁNH BỆNH LAOBiện pháp phòn ...

Bệnh lao - nguyên nhân của bệnh lao và cách điều ...

Triệu chứng của bệnh lao và cá thể laoKhi xâm nh ...

Bệnh lao - Triệu chứng và những biểu hiện của bệ ...

Bệnh lao và những con sốTheo thông báo của Tổ ch ...

Bệnh lao vú

Bệnh lao vú

Bệnh lao vú là thể lao hiếm, nhưng nói mới thì không phải. Theo y văn thế giới thì ca đầu tiên được phát hiện vào năm 1829 bởi Sir AsHey Cooper (Anh). Đến nay trên thế giới đã có khoảng 500 ca. Tại VN, có khoảng 30 trường hợp. Không chỉ xuất hiện ở nữ, lao vú còn được phát hiện ở nam nhưng rất hiếm. Trên thế giới chỉ ghi nhận có 3 trường hợp lao vú ở nam vào năm 1999 và năm 2002
biểu hiện bệnh lao vú

Triệu chứng của bệnh lao vú

Tháng 11-2001, ca lao vú đầu tiên được ghi nhận tại BV Ung bướu TP.HCM đó là một bệnh nhân nữ, sinh năm 1965, ngụ ở Gò Vấp, nhập viện trong tình trạng vú trái bị sưng và có khối u. Sau khi làm được làm sinh thiết, bệnh nhân đã được chẩn đoán là lao vú và được chữa khỏi bệnh. Trước đó, bệnh nhân được chẩn đoán là áp-xe vú, nghi ung thư và đã đi chữa trị nhiều nơi. Đây cũng là bệnh nhân vừa được BV Ung bướu tiếp tục làm phẫu thuật cắt lọc đường dò (dù đã điều trị xong bệnh lao) vào tháng 3-2005.

Nếu bệnh nhân có những triệu chứng như: sốt, ớn lạnh, sụt cân và bị viêm loét da vú, đau, sưng vú, sờ thấy u ở một bên vú cũng như các yếu tố nguy cơ như sống ở vùng có nhiều người bị mắc lao hay gia đình và bản thân từng có tiền căn lao, phụ nữ cho con bú, cơ thể bị suy giảm sức đề kháng và dinh dưỡng kém thì nên đi đến BV chuyên khoa về ung bướu để được chẩn đoán đúng và chuyển đến nơi điều trị phù hợp. Điều lưu ý là đối với triệu chứng đau vú, bệnh nhân chỉ đau nhẹ khi đụng tới hay mặc áo, không đau kiểu cắn hay như bị kim châm.

Nếu phát hiện sớm, lao vú sẽ được điều trị dứt bằng những thuốc kháng lao thông thường, thời gian từ 8-9 tháng theo chương trình chống lao quốc gia.

Những điều cần biết về bệnh lao vú

Bệnh lao vú thường dễ bị nhầm lẫn với ung thư, áp xe vú. Nguyên nhân là vì do chẩn đoán hình ảnh (siêu âm, X-quang) và biểu hiện lâm sàng của 2 bệnh này là gần giống nhau. Lao vú chỉ có thể được chẩn đoán chính xác qua việc giải phẫu bệnh (làm sinh thiết) tìm nang lao điển hình và phết mủ tìm vi trùng lao (Rất khó vì các ca đều không tìm thấy vi trùng lao trong dịch tiết mô vú và mẫu sinh thiết). Trong một số trường hợp khó chẩn đoán phải kết hợp bệnh sử, kết quả giải phẫu bệnh và điều trị ung thư đáp ứng.

Do dễ nhầm lẫn như vậy nên nếu chẩn đoán sai, sẽ rất tốn kém khi chữa trị và bệnh nhân có thể bị... đoạn nhũ. Bên cạnh đó, nếu để lâu sẽ gây ra đường dò bên trong, phải phẫu thuật tiếp dù đã điều trị hết bệnh lao như trường hợp trên hoặc làm biến dạng vú gây ảnh hưởng tâm lý rất nặng nề.  Nó cũng có thể gây ra những thể lao khác như xâm nhập ngược trở lại lồng ngực, gây ra lao phổi và lao màng phổi.

Theo các tác giả nước ngoài thì bệnh lao vú lây qua các đường: Vi trùng lao được hít vào phổi, qua đường máu tới vú; Do vi trùng lao lan ngược từ các hạch lympho bị lao ở nách, từ những ổ bệnh lao trong lồng ngực như phổi, màng phổi hay từ xương sườn; Vi trùng lao xâm nhập do các vết trầy xước da và qua các lỗ ống sữa ở đầu vú.

Lứa tuổi dễ mắc bệnh lao vú nhất là từ 25-45 tuổi. Đây là độ tuổi sinh nở, cho con bú. Tuyến vú rất phát triển, cơ hội cho vi trùng lao dễ dàng tấn công. Tuy nhiên, trong những trường hợp vừa qua, cũng có những trường hợp ở độ tuổi 70. Chị em phụ nữ cần cảnh giác trước vẫn hơn.
Nguồn: tuoitre.vn

Mặc áo ngực chật dễ bị bệnh lao vú

Nhiều chị em vô tình bị lao tuyến vú do mặc áo ngực quá chật, nâng ngực, những lúc khó chịu, họ vô tình đưa tay lên gãi, làm xước, tổn thương ngực và vi khuẩn lao xâm nhập qua con đường này.
Chị N.T.V., nhân viên tư vấn bảo hiểm, nói gia đình chị không ai bị bệnh lao nhưng mới đây chị bị viêm tuyến vú, đến Bệnh viện Ung bướu TPHCM khám thì được giới thiệu sang Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, và tại đây kết quả xét nghiệm, chụp X-quang cho thấy chị bị lao tuyến vú.


Quá gò ép vòng 1 có thể dẫn đến lao vú
Không giấu giếm, chị N.T.V. cho biết do vòng một khiêm tốn, chị thường mặc những áo nịt ngực có chức năng nâng, độn ngực. “Tôi không biết vì sao mình lại bị lao vú nhưng một thời gian dài tôi đã mặc áo ngực chật, có chức năng nâng ngực và rất nhiều lần nóng bức, ngứa, tôi lấy tay gãi mà chẳng nghĩ ngợi gì”, chị N.T.V. thổ lộ.

Thầy thuốc ưu tú, bác sĩ Trần Đình Thanh, Trưởng Khoa Ung bướu Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, giải thích trang phục quá chặt, bó ép vòng 1, gây nóng bức, ngứa, gãi làm trầy xước da khiến vi trùng lao vô tình có ở tay đi thẳng đến vết thương trên da tuyến vú là một trong ba nguyên nhân dẫn đến lao tuyến vú (đường lây trực tiếp).

Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch cũng từng phát hiện một bệnh nhân nam bị lao tuyến vú do xuất phát từ lao phổi, màng phổi rò vào tuyến vú.

Một nguyên nhân khác là do người ta hít phải vi trùng lao trong không khí vào phổi nhưng chưa thể gây bệnh và trở thành vi trùng lao nội tại trong cơ thể, nằm chờ đến khi nào cơ thể bị mất cân bằng, suy giảm miễn dịch thì vi trùng tấn công.

Khi vi trùng lao nội tại này tới cơ quan nào sẽ gây lao ở cơ quan đó, ví dụ như tới hạch gây lao hạch, tới não gây lao màng não, tới vú thì gây lao vú (đây là cơ chế lây theo đường máu).

Nguyên nhân còn lại do bản thân người bệnh đang bị lao phổi, lao xương sườn, từ những ổ lao này vi trùng lao xâm lấn trực tiếp ra mô vú hoặc hạch qua đường rò mủ (đường lây kế cận). Cũng theo bác sĩ Thanh, trong số các bệnh nhân đã được ông khám và điều trị, gần 60% bệnh nhân có thói quen mặc áo ngực chật, nâng ngực.

Nguy cơ ung thư

Mới đây PGS.TS Nguyễn Thị Thu Ba, bộ môn lao và bệnh phổi ĐH Y dược TPHCM, báo cáo có đến 47 trường hợp bệnh nhân lao vú được chẩn đoán xác định và điều trị tại đây.

Riêng thống kê của bác sĩ Thanh thì từ năm 2002 đến nay, ông đã và đang điều trị khoảng 500 bệnh nhân bị lao vú. Do ảnh hưởng thẩm mỹ nên khi bị lao vú, nhiều chị em hoang mang, mất tự tin. Đặc biệt, nếu bị áp-xe tái diễn nhiều lần phải chọc thoát mủ dẫn lưu hay gây tình trạng rò mủ ra da, một số trường hợp đường rò ngóc ngách quá nhiều phải cắt lọc đường rò, đôi khi phải cắt bỏ một phần tuyến vú, gây mất thẩm mỹ cho người bệnh.

Ngoài vấn đề thẩm mỹ, lao vú còn có thể dẫn đến nhiều tình huống nguy hiểm khác. “Nếu lao vú để lâu không điều trị hoặc điều trị không đúng cách có thể rò ngược trở vào lồng ngực, gây lao ở lao màng phổi, lao phổi, thậm chí vi trùng lao vào đường máu và có thể gây lao màng não.

Một số kháng sinh thường dùng cũng ảnh hưởng đến vi trùng lao, việc điều trị không tốt sẽ gây ra lao kháng thuốc, rất nguy hiểm. Do đó, phải phát hiện sớm để kịp thời điều trị và điều trị đúng” - bác sĩ Thanh khuyến cáo.

Các tổn thương lành tính tại vú như viêm nhiễm lâu ngày, tái diễn áp-xe nhiều lần tại vú như lao vú cũng là một yếu tố có nguy cơ phát triển ung thư vú (tuy rất ít).

Theo bác sĩ Thanh, khi phát hiện u vú, chị em nên đến một cơ sở khám có chuyên khoa về tuyến vú như Bệnh viện Ung bướu, Bệnh viện Phụ sản... Nếu tại đó chẩn đoán không phải ung thư mà viêm vú thì nên dè chừng lao tuyến vú.

Việc điều trị lao vú cũng như điều trị lao thông thường theo chương trình chống lao quốc gia là tám tháng khỏi bệnh, tuy nhiên lao ngoài phổi (trong đó có lao màng não, lao xương, lao vú…) thường phức tạp, rất có thể bác sĩ phải điều trị từ chín tháng đến một năm tùy từng trường hợp.

Khi khám và điều trị cho nhiều bệnh nhân bị lao vú, bác sĩ Thanh đều khuyên họ không nên mặc áo ngực trong khi còn tổn thương ở vú, hoặc nếu dùng nên mặc áo ngực thoáng, mát, kích cỡ vừa phải, không gây gò bó cho vòng 1. Với những trường hợp vú bị áp-xe nhiều và rò mủ thì nên để ngực trần.

Với nguyên nhân vi trùng lao xâm nhập qua tuyến vú như trên, bệnh nhân có thể phòng, tránh bằng cách không mặc những loại áo ngực quá gò bó, gây nóng bức và nên vệ sinh tay sạch sẽ trước khi chạm vào vòng 1.

Ngoài ra, nên tầm soát cơ chế lây từ gia đình, như nhà có người thân bị lao phổi, những bệnh lao khác hoặc tầm soát từ chính bản thân có bị lao hay không.

15 ngày điều trị viêm nhiễm không giảm, nên khám chuyên khoa lao

Bệnh nhân bị áp-xe vú, sau khi làm xét nghiệm tế bào học, nếu chẩn đoán là viêm vú và được điều trị 15 ngày bằng kháng sinh mà không giảm thì nên gặp bác sĩ điều trị để tham vấn thêm.

Nếu tiếp tục được chẩn đoán là viêm vú thì nên tìm đến chuyên khoa lao để khám, tầm soát và có thể bác sĩ sẽ đề nghị chọc dò làm tế bào học và sinh thiết làm giải phẫu bệnh để chẩn đoán.

Mới đây, Bệnh viện Ung bướu TPHCM chuyển sang Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch bốn trường hợp bị viêm tuyến vú, kết quả giải phẫu bệnh cho biết cả bốn bệnh nhân này đều bị lao vú.
Theo giadinh.net.vn

Bệnh lao có lây không?

Bệnh lao có lây không?


Bệnh lao là tình trạng nhiễm vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis, thường gặp nhất ở phổi nhưng cũng có thể ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương (lao màng não), hệ bạch huyết, hệ tuần hoàn (lao kê), hệ niệu dục, xương và khớp.

Hiện nay lao là bệnh nhiễm khuẩn chính và thường gặp nhất, ảnh hưởng đến 2 tỉ người tức 1/3 dân số, với 9 triệu ca mới mỗi năm, gây 2 triệu người tử vong, hầu hết ở các nước đang phát triển.
Hầu hết (90%) các trường hợp nhiễm khuẩn lao là tiềm ẩn không triệu chứng. 10% những người này trong cuộc đời họ sẽ tiến triển thành bệnh lao có triệu chứng, và nếu không điều trị, nó sẽ giết 50% số nạn nhân. Lao là một trong 3 bệnh truyền nhiễm gây tử vong cao nhất trên thế giới: HIV/AIDS giết 3 triệu người mỗi năm, lao giết 2 triệu, và sốt rét giết 1 triệu.

Bệnh lao có lây không?

Lao lan truyền qua các giọt nước trong không khí từ chất tiết khi ho, nhảy mũi, nói chuyện hay khạc nhổ của người nhiễm vi khuẩn hoạt động. Tiếp xúc gần gũi (kéo dài, thường xuyên, thân mật) là nguy cơ nhiễm bệnh cao nhất (khoảng 22%, nhưng có thể đến 100%). Người mắc lao hoạt động không điều trị có thể lây sang 20 người khác mỗi năm. Các nguy cơ khác bao gồm ra đời ở vùng lao phổ biến, bệnh nhân rối loạn miễn dịch (như HIV/AIDS), cư dân hoặc làm việc ở nơi đông người nguy cơ cao, nhân viên chăm sóc sức khoẻ phục vụ đối tượng có nguy cơ cao, nơi thu nhập kém, thiếu vắng dịch vụ y tế, dân thiểu số nguy cơ cao, trẻ em phơi nhiễm với người lớn thuộc nhóm nguy cơ cao, người tiêm chích ma tuý.
Lây truyền chỉ xảy ra ở người mắc bệnh lao hoạt động (không phải lao tiềm ẩn).
Khả năng lây truyền phụ thuộc vào mức độ nhiễm khuẩn của người mắc lao (số lượng tống xuất), môi trường phơi nhiễm, thời gian phơi nhiễm và độc lực của vi khuẩn.
Chuỗi lây truyền có thể được chấm dứt bằng cách cách ly người bệnh ở giai đoạn bệnh hoạt động và áp dụng biện pháp điều trị kháng lao hữu hiệu.

Bệnh lao lây qua đường nào

Bệnh lao lây qua đường nào

Xem thêm: Bệnh lao não

Bệnh lao lây truyền như thế nào?

Tất cả các thể lao đều dẫn đến lây nhiễm nếu có hiện tượng phát tán vi khuẩn lao ra ngoài; trong đó, lao phổi dễ lây truyền nhất. Vi khuẩn bệnh lao xâm nhập cơ thể qua đường hô hấp, tiêu hoá, qua tiếp xúc hoặc truyền từ mẹ sang con.
Phần lớn vi khuẩn lao được tung ra do ho khạc, hắt hơi, thậm chí nói chuyện. Người khỏe mạnh hít phải các giọt bệnh phẩm nhỏ li ti bay lơ lửng trong không khí và nhiễm bệnh. Vi khuẩn lao cũng đi vào cơ thể nếu ta dùng thức ăn nhiễm khuẩn. Nó cũng truyền qua các vết cắt hoặc sây sát trên da, niêm mạc mắt, họng. Người mẹ truyền khuẩn lao cho thai nhi qua tĩnh mạch rốn (gây bệnh lao bẩm sinh).

Sau khi vi khuẩn lao xâm nhập cơ thể, bệnh diễn biến qua 2 giai đoạn: lao nhiễm và lao bệnh. Đầu tiên, cơ thể huy động "đội quân bảo vệ" đến, gồm đại thực bào, bạch cầu đa nhân trung tính và lympho. Đại thực bào có nhiệm vụ ăn các vi khuẩn lao (nếu nó không giết được vi khuẩn thì sẽ bị chúng phá hủy). Các lympho hình thành miễn dịch.

Quá trình nhiễm lao kết thúc khi cơ thể thắng thế, tổn thương trở thành xơ hóa, vôi hóa, vi khuẩn lao phần lớn bị tiêu diệt, phần còn lại ở trong trạng thái không chuyển hóa và là nguồn gốc của bệnh lao nội sinh sau này. Nếu cơ thể không thắng thế, vi khuẩn lao tiếp tục sinh sôi, xâm nhập vào đường bạch huyết rồi hạch bạch huyết. Các triệu chứng sơ nhiễm lao xuất hiện.

Chỉ khoảng 10% số người nhiễm lao trở thành lao bệnh. Ở những người nhiễm HIV/AIDS, tỷ lệ này lên tới 30%. Trong 80% trường hợp, giai đoạn lao bệnh xuất hiện trong 2 năm đầu sau khi nhiễm lao. Bệnh lao có thể xảy ra rất sớm ngay trong giai đoạn nhiễm lao (như bệnh lao sơ nhiễm). Trẻ càng nhỏ, bệnh lao sơ nhiễm càng dễ xảy ra. Nếu phát hiện và điều trị chậm, vi khuẩn lao sẽ xâm nhập vào máu, gây tổn thương ở nhiều bộ phận như màng não, hạch, xương khớp... và nặng nhất là lao kê. Người cao tuổi cũng có thể mắc những bệnh lao thể nặng.

BS Bình Lâm, Sức Khoẻ & Đời Sống
Nguồn: Vnexpress.net

Bệnh lao não

Bệnh lao não

Lao màng não

Mục tiêu
 
Trình bày được các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng của lao màng não.
 
Nêu được các yếu tố chẩn đoán lao màng não.
 
Kể được các biện pháp điều trị và phòng bệnh lao màng não.

1. Đại cương về bệnh lao não

1.1. Vị trí lao màng não trong lâm sàng bệnh lao

Lao màng não là bệnh do vi khuẩn lao gây tổn thương ở màng não và não.
 
Lao màng não là thể lao ngoài phổi có tiên lượng nặng, tỷ lệ tử vong còn cao và thường để lại di chứng nặng.
 
Cũng như bệnh lao nói chung, lao màng não là một thể bệnh được tìm hiểu và nghiên cứu từ khá sớm.
 
Trong thời gian đầu: chẩn đoán bệnh thường muộn và chưa có thuốc điều trị lao đặc hiệu nên gây tử vong do bệnh lao màng não rất cao, gần 100%. Chỉ đến khi phát hiện được các thuốc điều trị lao đặc hiệu, đặc biệt là từ khi tìm được rifampixin là thuốc điều trị lao mạnh (1965) kết hợp với các kỹ thuật chẩn đoán bệnh hiện đại (PCR, ELISA... ) và các biện pháp hồi sức tích cực, việc chẩn đoán và điều trị bệnh ngày càng đạt được kết quả khả quan, tỷ lệ tử vong và di chứng do bệnh đã giảm đi đáng kể. 

1.2. Tình hình dịch tễ lao màng não

ở các nước phát triển tình hình bệnh lao đã giảm nhiều, tỷ lệ mắc lao màng não rất thấp. Trái lại ở Việt Nam hiện nay tình hình mắc thể bệnh này còn khá phổ biến. Thể bệnh này luôn được quan tâm nghiên cứu bởi các lý do:
 
Tình hình mắc bệnh lao màng não, đặc biệt ở trẻ em là một chỉ số dịch tễ có giá trị đánh giá tình hình bệnh lao và hiệu quả của chương trình chống lao.
 
Hiện nay bệnh còn thường gặp ở mọi lứa tuổi và ở mọi tuyến y tế cơ sở. + Việc chẩn đoán bệnh còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu vẫn dựa vào các phương pháp kinh điển, việc áp dụng các kỹ thuật mới còn hạn chế nên chẩn đoán bệnh muộn.
 
Kết quả điều trị bệnh còn hạn chế, tỷ lệ tử vong còn khá cao, khoảng 30% ở nhiều cơ sở điều trị.
 
Dựa vào chỉ số nguy cơ nhiễm lao có thể ước lượng được số lao màng não trẻ em mới mắc hàng năm theo công thức:
 
I (lao màng não trẻ em) = 0,5 x R /100.000
 
Trong đó:I: số trẻ em mắc lao màng não mới trong 1 năm
 
R: nguy cơ nhiễm lao
 
Sơ bộ có thể tính được số trẻ em mắc lao màng não mới hàng năm ở Việt Nam là 500 trường hợp.
 
Khác với lao màng não trẻ em, không có công thức ước lượng cho lao màng não ở người lớn. Các thống kê nghiên cứu qua nhiều năm ở Bệnh viện Lao - Bệnh phổi trung ương cho thấy số bệnh nhân lao màng não người lớn vào bệnh viện điều trị trong nhiều năm gần đây có xu hướng tăng dần, chiếm 2- 3% số bệnh nhân vào viện.

1.3. Một số đặc điểm sinh bệnh học của lao màng não

Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu vẫn do vi khuẩn lao người. Vai trò gây bệnh của các loại vi khuẩn khác cũng được đề cập đến. Cần chú ý đến khả năng gây bệnh lao của những chủng vi khuẩn lao kháng thuốc từ đầu, cho tiên lượng bệnh nặng. Đường gây bệnh: Vi khuẩn lao chủ yếu theo đường máu và bạch huyết đến gây bệnh ở màng não và não nên lao màng não nằm chung trong bệnh cảnh bệnh lao lan tràn theo đường máu và lao màng não hay có phối hợp với tổn thương lao kê ở các nơi khác. Trong một số ít trường hợp, có thể gây bệnh do đường kế cận từ lao cột sống xâm nhập vào màng tủy.

Cơ chế gây bệnh:
 
Theo quan niệm chung, lao màng não thường là thể lao thứ phát. Đối chiếu với chu kỳ gây bệnh lao của Ranke (1916 ): Bệnh lao phát hiện qua giai đoạn, thể lao màng não được hình thành ở giai đoạn 2. Ngày nay theo quan niệm bệnh lao phát triển qua 2 giai đoạn thì lao màng não xuất hiện ở giai đoạn 2 (giai đoạn lao sau sơ nhiễm).
 
Trong lao màng não: vi khuẩn lao có thể gây ra những hình thái tổn thương sau:
 
Thường gây viêm và làm tổn thương màng não, chủ yếu màng não ở khu vực nền sọ.
 
Hình thành các tổn thương ở nhu mô não.
 
Gây viêm và làm hẹp động mạch cung cấp máu nuôi dưỡng não do đó có thể gây tổn thương một vùng của não.
 
Quá trình viêm nhiễm gây rối loạn lươ thông của não thất.
 
Những quá trình trên khi xuất hiện tùy ở từng nơi và mức độ sẽ tạo ra bệnh cảnh lâm sàng của lao màng não. Do đó muốn điều trị bệnh có kết quả tốt thì cần chẩn đoán và điều trị bệnh ở giai đoạn sớm. Vì ở giai đoạn này tổn thương ở màng não và não nhẹ có thể phục hồi chức năng tốt sau quá trình điều trị.
 
Những điều kiện thuận lợi tạo khả năng dễ mắc bệnh lao màng não thường được đề cập đến là:
 
Khi đang mắc các thể lao tiên phát (lao sơ nhiễm ở trẻ em và lao phổi ở người lớn). Bệnh ở mức độ nặng do chẩn đoán muộn hoặc do điều trị không có kết quả có thể biến chứng lao màng não.
 
Do sức đề kháng của người bệnh bị suy giảm bởi nhiều nguyên nhân: Suy dinh dưỡng, sau nhiễm virus, không tiêm BCG, nhiễm HIV, đái tháo đường… Những người này dễ mắc bệnh lao và bệnh lao có diễn biến nặng và dễ có biến chứng lao màng não.

1.4. Đặc điểm giải phẫu bệnh lý lao màng não

1.4.1. Đại thể
 
Thường có phối hợp tổn thương ở màng não với tổn thương ở não.
 
ở màng não:
 
Có các hạt lao, đám loét bã đậu tập chung chủ yếu ở đáy não, chéo thị giác. Các hạt lao màu trắng, xám, tròn, kích thước 3 - 5mm, nhẵn, chắc, ở giữa có chất bã đậu.
 
Đối với lao màng não mới còn có thêm hiện tượng phù nề, sung huyết.
 
Trong lao màng não cũ có thể thấy não dầy, trắng đôi khi có vách ngăn trong ống tủy. Các não thất ứ nước, giãn rộng. Thần kinh thị giác có thể bị teo và các dây thần kinh sọ bị chèn ép bởi tổ chức xơ của màng não.
 
Tổn thương ở não là những hạt lao phân bố dọc theo các mạch máu và ở ổ hoại tử bã đậu ở trong não.
 
1.4.2. Vi thể:
 
Tổn thương cơ bản là nang lao kèm theo có hiện tượng giãn vỡ mao mạch ở não. Tổ chức xơ phát triển xen kẽ tổ chức bã đậu.

2. Những biểu hiện lâm sàng của bệnh lao màng não

Tùy thuộc vào thời gian mắc bệnh sớm hay muộn mà các triệu chứng của lao màng não có thể rất nghèo nàn hoặc đầy đủ, phong phú. Thực tế lâm sàng của lao màng não khá đa dạng với những thể bệnh khác nhau, nhiều khi làm cho chẩn đoán bệnh gặp không ít khó khăn, dễ nhầm lẫn. Tuy vậy thể viêm màng não kinh điển vẫn là biểu hiện chính của bệnh.

2.1. Thể viêm màng não điển hình

Đây là biểu hiện hay gặp nhất trong lao màng não. Trước kia được coi là thể đặc thù cho lao màng não ở trẻ em, ngày nay có xu hướng gặp nhiều ở cả người lớn.
 
2.1.1. Tiền triệu:
 
Có thể trong một thời gian ngắn hoặc nhiều ngày, các triệu chứng kín đáo không điển hình cho định bệnh như: Sốt nhẹ, kém ăn, người mệt mỏi, thay đổi tính tình (cáu gắt, lãnh đạm), rối loạn giấc ngủ, giảm khả năng làm việc... Nhìn chung các triệu chứng bệnh ở giai đoạn này ít nhận biết được, dễ bỏ qua, thường do hồi cứu mà biết được.
 
2.1.2. Giai đoạn bệnh phát
 
ở giai đoạn này các triệu chứng của bệnh ngày càng đầy đủ và rõ. Mới đầu là các triệu chứng cơ năng và toàn thân sau đó là các triệu chứng thực thể:
 
Sốt là triệu chứng thường có. Sốt cao, có tính chất giao động, kéo dài,tăng lên về chiều tối.
 
Nhức đầu là triệu chứng hay gặp với tính chất và mức độ khác nhau; khu trú hoặc lan tỏa, liên tục hoặc thành từng cơn, âm ỉ hoặc dữ dội và tăng lên khi có những kích thích tiếng động hoặc ánh sáng. Triệu chứng này kết hợp với tình trạng tăng trương lực cơ làm bệnh nhân hay nằm ở tư thế đặc biệt: Nằm co người, quay mặt vào trong tối. ở trẻ nhỏ khó nhận biết được triệu chứng này, có khi biểu hiện gián tiếp tình trạng hay khóc quấy.
 
Nôn là triệu chứng thường gặp khi có tình trạng tăng áp lực nội sọ với đặc điểm nôn tự nhiên, nôn vọt không liên quan tới bữa ăn.
 
Rối loạn tiêu hoá: táo bón ở người lớn, trẻ em có thể ỉa chảy.
 
Đau là triệu chứng có thể có trong quá trình bệnh. Đau ở cột sống phối hợp với đau ở các chi, không dữ dội, dễ kéo dài thành di chứng. Đau ở các khớp có thể gặp ở trẻ em. Một số trường hợp biểu hiện đau bụng cấp tính khu trú hoặc lan tỏa, dễ chẩn đoán nhầm với một số bệnh cấp cứu ngoại khoa ở bụng.
 
Các dấu hiệu tổn thương thần kinh khu trú: Rối loạn cơ thắt gây bí đái, tiểu tiện hoặc đại tiểu tiện không tự chủ. Liệt các dây thần kinh sọ (rối loạn vận nhãn, liệt mặt, nuốt nghẹn...), liệt các chi, các cơn động kinh cục bộ hoặc toàn thể, các biểu hiện rối loạn tâm thần.
 
Các biểu hiện rối loạn ý thức có thể có với mức từ nhẹ đến nặng (hôn mê).
 
Trong quá trình bệnh diễn biến kéo dài thấy các biểu hiện kém ăn, mệt mỏi, gầy sút ngày càng nhiều ở giai đoạn muộn, có thể dẫn tới tình trạng suy kiệt, phù hoặc loét do suy dinh dưỡng.
 
Qua khám lâm sàng phát hiện được các triệu chứng thực thể khá đặc hiệu cho bệnh cảnh viêm ở màng não là: dấu hiệu cổ cứng (+), vạch màng não (+), Kernig (+), Brudzinski (+) ...
 
Trong quá trình tiến triển của bệnh có thể tập hợp và khái quát các triệu chứng thành các hội chứng chủ yếu thường gặp:
 
Toàn thân thường biểu hiện hội chứng nhiễm trùng và suy kiệt.
 
Dấu hiệu chỉ điểm quan trọng là hội chứng màng não gồm tam chứng màng não (nhức đầu, nôn, táo bón) và triệu chứng thực thể (vạch màng não, cổ cứng, Kernig).
 
Các dấu hiệu làm tổn thương thần kinh khu trú và rối loạn ý thức nếu có thường có ở những trường hợp nặng.
 
Cần lưu ý việc nhận định các triệu chứng có thể khó khi bệnh ở giai đoạn sớm, hoặc ở trẻ quá nhỏ, hoặc ở những bệnh nhân đến trong tình trạng quá nặng (hôn mê, suy kiệt nặng).
 
2.1.3. Giai đoạn cuối:
 
Tùy vào quá trình chẩn đoán và điều trị, có thể gặp các tình huống sau:
 
Nếu chẩn đoán bệnh muộn, điều trị không có hiệu quả bệnh tiến triển nặng dần, bệnh nhân thường tử vong trong tình trạng hôn mê sâu và suy kiệt.
 
Những bệnh nhân sống sót có nhiều di chứng về thần kinh và tâm thần. Tùy từng trường hợp có thể gặp các loại di chứng:
 
Những di chứng về tâm thần: thay đổi tính tình, nhân cách, các trạng thái hoang tưởng, thiểu năng trí tuệ...
 
Di chứng làm tổn thương các dây thần kinh sọ, liệt vận động.
 
Tổn thương thần kinh thực vật do những tổn thương ở vùng đuôi ngựa không hồi phục.
 
Các cơn động kinh.
 
Các động tác bất thường do di chứng tổn thương ở vùng tiểu não.
 
Các trạng thái gây rối loạn nội tiết gây béo phì, đái tháo nhạt do di chứng tổn thương ở vùng dưới đồi.

2.2. Các thể lâm sàng khác
 
Các thể này thường gặp khó khăn trong chẩn đoán và có liên quan đến tiên lượng bệnh:
 
Thể lao màng não ở trẻ nhỏ (dưới một tuổi ): rất nặng, tử vong cao. Hay có kèm theo tổn thương lao ở nhiều cơ quan khác.
 
Thể lao màng não ở người già: Các triệu chứng của bệnh thường là kín đáo, chẩn đoán bệnh muộn. Kết quả điều trị hạn chế, tử vong cao và tỷ lệ di chúng cao.
 
Thể khởi đầu đột ngột: Các triệu chứng ở giai đoạn đầu không có hoặc kín đáo đột ngột xuất hiện nhiều triệu chứng của bệnh.
 
Thể toàn thân: sốt, thể trạng gầy sút và có các rối loạn chức phận dễ nhầm với bệnh cảnh nhiễm khuẩn huyết. Thể này hay gặp ở người già hoặc có cơ địa suy yếu.
 
Thể tâm thần: rối loạn về ý thức, khó định hướng về không gian và thời gian, rối loạn trí nhớ, hoặc có tình trạng hưng cảm, hoang tưởng, ảo giác... Thể này thường gặp ở người lớn. Trong chẩn đoán dễ nhầm với các thể bệnh tâm thần khác.
 
Thể tủy: Ngoài các triệu chứng toàn thân. Triệu chứng viêm màng não kín đáo. Thường có biểu hiện đau cột sống lan ra phía bụng, rối loạn tiêu hóa kiểu bán tắc ruột. Rối loạn tiểu tiện và có thể có liệt hai chân.
 
Thể giả u não: do các u lao khá lớn ở vùng bán cầu và dưới lều.

3. Xét nghiệm cận lâm sàng

3.1. Xét nghiệm dịch não tủy

Đây là một xét nghiệm cơ bản trong chẩn đoán bệnh. Do vậy mọi trường hợp nghi ngờ mắc lao màng não đều phải được chọc tủy sống lấy dịch não tủy để xét nghiệm càng sớm càng tốt. Trong lao màng não, dịch não tủy thường thay đổi với những tính chất sau:
 
Trong đa số trường hợp áp lực đều tăng, dịch trong, có màu hơi ánh vàng. Những trường hợp nhẹ vẫn trong như bình thường. Một số trường hợp có thể vẩn đục do tăng nhiều tế bào. Màu đỏ hoặc vẩn đục có thể gặp nhưng ít.
 
Albumin trong dịch não tủy tăng. Mức tăng thường trong khoảng 5,79 mmol/l - 28,98 mmol/l, đặc biệt là trên dưới mức 14,49 mmol/l. Phản ứng Pandy (+) do có nhiều thành phần globulin. Albumin tăng cao và kéo dài trong quá trình điều trị dự báo một tiên lượng không tốt.
 
Tế bào trong dịch não tủy tăng. Với mức độ rất khác nhau: có khi tăng nhẹ (< 20 tế bào) cũng có trường hợp tăng rất nhiều (hàng nghìn). Trong lao màng não, mức tăng hay gặp là trong khoảng 20-300 tế bào/ml. Thành phần chủ yếu là tế bào lympho. Một số ít trường hợp ở giai đoạn đầu có tăng bạch cầu đa nhân trung tính hoặc có ít bạch cầu đa nhân trung tính thoái hóa, hồng cầu, nhưng dần dần ở giai đoạn muộn tế bào lympho vẫn chiếm ưu thế. Những trường hợp bệnh nặng tế bào tăng cao ở giai đoạn bệnh tiến triển.
 
Glucose giảm ở mức (1,39 - 1,94 mmol/l ), không có tính đặc hiệu. Vì một số ít trường hợp nhất là ở giai đoạn sớm không giảm, những trường hợp nặng giảm nhiều.
 
Muối trong dịch tủy não giảm, tính chất này ít được quan tâm. Cần lưu ý dấu hiệu này trong một số trường hợp vẫn có giá trị tham khảo để chẩn đoán bệnh.
 
Tìm vi khuẩn lao trong dịch não tủy bằng phương pháp soi thuần nhất. Kết quả tìm thấy vi khuẩn lao trong các xét nghiệm hiện tại còn thấp, khoảng 10%. Phương pháp soi trực tiếp rất khó phát hiện. Phương phát nuôi cấy nếu có điều kiện nên áp dụng. Vì độ nhậy và độ đặc hiệu cao, có thể làm kháng sinh đồ hỗ trợ cho điều trị, hạn chế của phương pháp này là thời gian cho kết quả lâu nên không đáp ứng được yêu cầu chẩn đoán sớm của lao màng não. Do vậy trong điều kiện hiện nay, nên vận dụng thêm các kỹ thuật hiện đại. Phương pháp ly tâm siêu tốc độ, dùng máy siêu lọc để xử lý bệnh phẩm, áp dụng các kỹ thuật BACTEC, PCR để nâng cao khả năng tìm được vi khuẩn lao trong dịch não tủy. Vì xét nghiệm tìm thấy vi khuẩn lao trong dịch não tủy là một chẩn đoán chắc chắn lao màng não.

3.2. Các xét nghiệm khác

Chụp X quang phổi: nếu có tổn thương lao kê ở phổi là bằng chứng gián tiếp có giá trị chẩn đoán lao màng não. Vì lao màng não và lao kê đều là những thể bệnh lao lan tràn theo đường máu nên có tỷ lệ phối hợp khá cao (khoảng 60%). Ngoài ra có thể phát hiện các tổn thương lao tiền phát ở phổi( lao sơ nhiễm, lao phổi mạn tính, lao màng phổi) đều có giá trị gợi ý chẩn đoán bệnh.
 
Phản ứng Mantoux: khi phản ứng này dương tính có giá trị góp phần chẩn đoán trong một số trường hợp. Tuy vậy ở một số bệnh nhân lao màng não quá nặng, ở người già, trẻ nhỏ, phản ứng này có thể âm tính.
 
Xét nghiệm công thức máu thường có một số thay đổi, nhìn chung không phù hợp, chỉ phù hợp với bệnh cảnh nhiễm trùng. Một số trường hợp có thể giúp ích phân biệt với tình trạng nhiễm trùng do các nguyên nhân khác.

4. Chẩn đoán bệnh lao màng não

Chẩn đoán lao màng não luôn phải đảm bảo hai yêu cầu là sớm và đúng. Do vậy mọi bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng nghi ngờ mắc lao màng não đều phải được khám kỹ và được làm các xét nghiệm đầy đủ để có cơ sở chẩn đoán, đặc biệt là xét nghiệm dịch tủy não sớm cho bệnh nhân.

4.1. Chẩn đoán xác định

Việc khẳng định chẩn đoán nhiều khi tương đối dễ. Nếu có những biểu hiện rõ ràng về lâm sàng và các xét nghiệm cận lâm sàng. Nhất là khi tìm thấy vi khuẩn lao trong dịch tủy não hoặc có tổn thương lao kê ở các cơ quan khác.
 
Những trường hợp chẩn đoán bệnh khó thì tùy từng điều kiện có thể làm một số xét nghiệm tổn thương lao đang có ở các cơ quan khác cũng là những tham khảo có giá trị giúp thêm cho việc chẩn đoán như:
 
Soi đáy mắt, soi thanh quản, soi màng phổi, soi màng bụng, chỉ định chụp X quang ở một số cơ quan khác.
 
Đặc biệt nên tận dụng việc chẩn đoán các kỹ thuật hiện đại: tìm kháng thể kháng lao trong dịch tủy não, trong máu bằng phản ứng ELISA, Hexagon.
 
Tìm vi khuẩn lao trong dịch tủy não bằng kỹ thuật BACTEC, PCR, Finger printer.
 
Xác định tổn thương bằng kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ não.
 
Những trường hợp đã xác định chẩn đoán thì việc chẩn đoán thể lâm sàng cũng cần được xác định để có căn cứ cho điều trị và tiên lượng bệnh. Liên quan đến tuổi và giới, cần lưu ý thêm thể lao màng não ở trẻ nhỏ và người già thường nặng. Về tính chất bệnh phối hợp: Lao màng não có phối hợp với lao ở các nơi khác thường nặng hơn thể đơn thuần. Về giai đoạn bệnh thì khi chẩn đoán ở giai đoạn muộn có tổn thương thần kinh khu trú và có hôn mê thường rất nặng.

4.2. Chẩn đoán phân biệt

Lâm sàng của lao màng não ở những trường hợp không điển hình có thể nhầm với các bệnh thần kinh và tâm thần như: Viêm màng não do vi khuẩn, do virus, áp xe não, u não và một số thể bệnh tâm thần khác.
 
Về tính chất thay đổi của dịch não tủy dễ nhầm với các nguyên nhân gây viêm màng não nước trong khác như viêm màng não mủ đã điều trị dở dang, viêm màng não do virus, do xoắn khuẩn ...

5. Điều trị bệnh lao não

Mục đích của điều trị là giảm tỷ lệ tử vong và di chứng của bệnh vì vậy khi đã chẩn đoán xác định phải tiến hành điều trị sớm và phải đạt được các yêu cầu sau:
 
Phải luôn quan niệm đây là một thể lao nặng, diễn biến cấp tính với nhiều rối loạn nặng về thần kinh và tâm thần, hệ tuần hoàn và hô hấp, nên khả năng xảy ra tử vong cao trong quá trình bệnh. Do vậy bệnh nhân cần phải được theo dõi và điều trị tích cực ở trong bệnh viện nhất là những nơi có đủ phương tiện cấp cứu hồi sức. Việc điều trị ngoại trú chỉ nên áp dụng cho những thể rất nhẹ và ở giai đọan điều trị sau của bệnh.
 
Phải áp dụng một chế độ điều trị tích cực với nhiều biện pháp phối hợp. Điều trị lao là biện pháp quan trọng nhất nên vận dụng các công thức có hiệu quả điều trị cao theo nguyên tắc. Phối hợp nhiều thuốc và liều dùng cao công hiệu ở giai đoạn tấn công (dùng 4-5 thứ thuốc). Thời gian điều trị phải đủ dài (từ 9 tháng đến 1năm). Các thuốc được ươ tiên chọn vào phác đồ điều trị là Rifampicin có tính diệt khuẩn mạnh và Rimifon dễ thấm vào màng não bị viêm.
 
ở người lớn có thể dùng công thức: 2 SRHZE/ 1RHZE/ 5 R3H3E 3
 
ở trẻ em có thể dùng công thức: 2RHZ( S/E)/ 4 RH
 
Các công thức trên hiện nay điều trị đạt kết quả khá tốt nên phương pháp điều trị tại chỗ bơm thuốc vào tủy sống không sử dụng nữa. Liệu pháp corticoid có thể được áp dụng đồng thời với thuốc lao ở giai đoạn đầu (thường 4-8 tuần đầu) có tác dụng góp phần cải thiện nhanh tình trạng viêm và những rối loạn dịch não tủy do vậy có thể hạn chế bớt biến chứng bệnh.
 
Việc điều trị triệu chứng cần được quan tâm giải quyết để hạn chế tử vong, trong các tình trạng: sốt cao, co giật, hôn mê sâu có rối loạn tuần hoàn và hô hấp, suy kiệt, bội nhiễm, phù não do tăng áp lực nội sọ ...
 
ở giai đoạn muộn cần quan tâm và kiên trì điều trị các di chứng bằng các biện pháp: châm cứu, lý liệu pháp, luyện tập phục hồi chức năng.
 
Theo dõi đánh giá kết quả điều trị lao màng não chủ yếu vẫn dựa vào diễn biến lâm sàng và xét nghiệm dịch não tủy. Những trường hợp điều trị bệnh có kết quả bệnh dần dần ổn định và khỏi. Lâm sàng phục hồi sớm, nhiều triệu chứng thuyên giảm rõ sau vài tuần điều trị trong khi đó sự phục hồi của dịch não tủy muộn hơn (sau một vài tháng).

6. Phòng bệnh lao màng não

Tiêm phòng BCG cho trẻ em và điều trị tốt các thể lao tiên phát, đặc biệt là lao sơ nhiễm và lao phổi mạn tính, đó là biện phát chủ động, tích cực nhất để làm giảm mắc lao màng não.
 
Chẩn đoán bệnh sớm điều trị bệnh đúng phương pháp và tích cực là biện pháp có hiệu quả làm giảm tỷ lệ tử vong và di chứng của lao màng não.
 
Tự lượng giá
 
Trình bày triệu chứng lâm sàng và yếu tố thuận lợi của lao màng não.
 
Trình bày các xét nghiệm để chẩn đoán bệnh lao màng não.
 
Nêu được các yếu tố chẩn đoán xác định lao màng não.
 
Trình bày các phương pháp điều trị lao màng não.
 
Trình bày các phương pháp phòng bệnh lao màng não.

Ăn uống cho người bị bệnh lao

Ăn uống cho người bị bệnh lao

Người bị bệnh lao thường gầy, sút cân, da xanh xao, thể trạng yếu. Thêm nữa, khi điều trị, người bệnh phải chích thuốc, uống thuốc trong thời gian dài nên việc chăm sóc ăn uống, nâng cao sức khỏe cho người bệnh là rất cần thiết.

Ăn uống cho người bị bệnh lao

Chế độ dinh dưỡng có vai trò quan trọng trong điều trị bệnh; đối với những bệnh nhân lao thì điều này lại càng quan trọng hơn. Tuy vậy, cần tùy thuộc vào từng giai đoạn bệnh, thể trạng người bệnh để có chế độ ăn uống phù hợp. Ở giai đoạn bệnh cấp: Nên ăn các thức ăn lỏng, dễ tiêu, giàu dinh dưỡng, ăn nhiều bữa trong ngày.

Chú ý uống nhiều nước (2-3lít/ngày), ngoại trừ những bệnh phải giới hạn lượng nước ở những người bệnh lao kết hợp với các bệnh xơ gan, suy tim, phù thũng… Ở giai đoạn phục hồi: Ưu tiên thực phẩm giàu chất đạm (thịt, trứng, cá, đậu hũ…) để giúp mau lành các tổn thương ở phổi; Giàu khoáng chất và vitamin (từ rau, củ, quả, trái cây…) để giúp cơ thể mau phục hồi các chức năng; đồng thời cung cấp nhiều chất xơ giúp người bệnh chống được táo bón do tác dụng không mong muốn của các thuốc kháng lao.

Nước dừa là một thức uống rất tốt trong việc bù nước và cung cấp các chất khoáng mà lại sẵn có và rẻ tiền, có thể cho người bệnh dùng thường xuyên, xen kẽ với các loại nước ép trái cây khác. Một điều rất quan trọng là cần quan tâm đến cách chế biến thức ăn, thường xuyên thay đổi món giúp người bệnh ăn ngon miệng và tránh nhàm chán. Nên bổ sung sữa vào khẩu phần ăn hàng ngày. Bên cạnh đó cần chú trọng bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm trong việc chế biến, bảo quản thức ăn cho người bệnh.
Tóm lại, chế độ ăn uống đủ chất, đúng cách, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm có vai trò hỗ trợ rất lớn trong việc điều trị thành công bệnh lao. Tuy nhiên, không nên bồi bổ một cách thái quá; không nên quá lo lắng, sốt ruột rồi bỏ tiền ra mua những thuốc bổ, món ăn thật đắt tiền để mong người bệnh nhanh hồi phục – điều này thật sự không cần thiết bởi vì với một bệnh nhân lao khi đã được điều trị, nhất là ở giai đoạn hồi phục, thì cảm giác thèm ăn có lại rất mau, vì vậy việc bồi bổ cần theo nhu cầu ăn của người bệnh.

AloBacsi.vn (Theo Báo Bà Rịa Vũng Tàu)

Phát hiện gien kiểm soát bệnh lao

Phát hiện gien kiểm soát bệnh lao

Phát hiện gien kiểm soát bệnh lao

Lần đầu tiên các nhà khoa học phát hiện được một gien kiểm soát tiến triển của bệnh lao từ khi nhiễm khuẩn đến khi phát bệnh và các tiến triển sau đó.

Trong bản báo cáo kết quả nghiên cứu của mình, các nhà khoa học thuộc Trường Đại học McGill (Canada) đã phát hiện trong 2 tỷ người nhiễm loại vi khuẩn lao Mycobacterium, chỉ 5-10% trong số này mắc bệnh lao và số còn lại tiềm ẩn các vi khuẩn gây bệnh lao trong “trạng thái ngủ”. Những người may mắn này được gien NARAMP1 kiểm soát tốc độ phát triển của bệnh lao.

Mặc dù gien này đã được xác định liên quan đến nhiều căn bệnh khác như bệnh phong, bệnh viêm khớp mãn tính... nhưng các biến thể của gien NARAMP1 đã kiểm soát tốc độ phát triển của bệnh lao và các nhà khoa học đã xác định được một số tác nhân đẩy nhanh tốc độ phát triển của bệnh này. HIV và vi khuẩn lao là hai “bạn” đồng hành, chúng đẩy nhanh sự phát triển của bệnh lao khi cùng xuất hiện trên người bệnh.

Bệnh lao đe doạ hàng triệu người  

Một Tổ chức y tế cảnh báo rằng nếu không có những hành động triệt để thì bệnh lao sẽ tiếp tục giết hàng triệu người tại các nước đang phát triển.
Mặc dù lao là một bệnh dễ chữa nhưng những biện pháp kiểm soát bệnh không bảo đảm đã làm cho căn bệnh này ngày càng vượt ngoài tầm kiểm soát.

Các nhà khoa học cho biết hiện nay các hiểm hoạ chính về sức khỏe là HIV và bệnh lao kháng thuốc.

Các tổ chức kêu gọi cần phải có thêm nhiều sự đầu tư thích đáng trong việc phát triển các phương pháp xét nghiệm và các loại thuốc mới.

Điều đáng mừng là hiện nay Khối liên minh lao toàn cầu cùng với FIND (Tổ chức vì mục đích phát minh ra các loại thuốc mới) đang phát triển các loại thuốc trị cũng như các phương pháp xét nghiệm bệnh lao mới.

Được biết các phương thuốc chữa bệnh lao đang được sử dụng đều đã được phát minh ra cách đây từ 40-60 năm.

Bệnh lao - cảnh báo

Báo cáo của Tổ chức y tế thế giới cho biết mặc dù bệnh lao giảm bớt 20% ở nhiều nước nhưng bệnh này lại tăng gấp ba lần ở châu Phi.
Nguyên nhân là do tỉ lệ người nhiễm HIV/AIDS gia tăng, cộng với việc thiếu thốn các dịch vụ chăm sóc y tế. Tại châu Phi mỗi năm có trên 500.000 người chết vì bệnh lao và tại một số nơi khoảng phân nửa số người mắc bệnh lao không được điều trị.

WHO khuyến cáo các chính phủ châu Phi phải xét nghiệm những bệnh nhân lao xem họ có nhiễm HIV/AIDS hay không đồng thời cũng cần chú ý triệu chứng lao ở những người đã có HIV.

Trong lúc đó, tình trạng ở Đông Âu còn nghiêm trọng hơn vì số trường hợp kháng thuốc ở bệnh nhân lao gia tăng rất nhiều. Hiện nay ở Nga những thuốc điều trị rẻ tiền và các phương pháp điều trị truyền thống không thể dùng để đối phó với vi khuẩn lao kháng thuốc.

Mục tiêu WHO đề ra là làm giảm bớt phân nửa số người mắc bệnh lao trên thế giới vào năm 2015. Và bây giờ ưu tiên hàng đầu là tìm ra thuốc chích ngừa và một lọai kháng sinh hiệu nghiệm hơn đối với bệnh lao.

KHANG LINH (Theo BBC NEWS)

Việt Báo (Theo_TuoiTre)

Bệnh lao ở người cao tuổi

Bệnh lao ở người cao tuổi

Do đặc điểm tâm sinh lý và các biến đổi sinh học nên bệnh lao ở người cao tuổi có một số đặc điểm không giống ở người trẻ. Những khác biệt này cần được chú ý trong các khâu chẩn đoán, xây dựng phác đồ điều trị, đặc biệt là việc dùng thuốc chống lao.

Ở người già, lao có thể xuất hiện theo cơ chế “tái nhiễm khuẩn nội lai”. Bệnh lao trở lại do vi khuẩn lao “nằm ngủ” từ lâu trong cơ thể, nay “thức tỉnh”, hoạt động trở lại và gây bệnh. Có một số yếu tố giúp cho bệnh trở lại là: hay dùng thuốc corticoid, mắc một số bệnh như ung thư, bệnh máu. Tác nhân gây tái nhiễm chính là việc có tiếp xúc với người mang khuẩn lao.

Tổn thương lao có thể khu trú trong lồng ngực (chủ yếu là phổi, rồi đến màng phổi, màng ngoài tim, hạch), và còn nhiều nơi khác trong cơ thể (cơ quan tiêu hóa, màng não, tiết niệu, xương khớp, hạch ngoại vi và các tạng trong ổ bụng).

Thường thì chẩn đoán bệnh lao ở người cao tuổi ít khi được đặt ra, hoặc nếu phát hiện được lao thì bệnh cũng đã ở giai đoạn muộn, ảnh hưởng không tốt đến chất lượng điều trị. Có rất nhiều lý do giải thích tình trạng này, nhưng có hai lý do hết sức quan trọng là:

- Bệnh lao ngày càng ít dần đi (nhưng hiện nay thì không phải như vậy nữa), do đó người ta ít nghĩ đến nó.

- Bệnh cảnh lâm sàng lao không điển hình: Triệu chứng không điển hình, chỉ có sốt đơn độc, gầy đơn độc. Dấu hiệu nổi bật lại là bệnh ở một cơ quan khác, ví dụ: suy tim (phù nề, gan to, tĩnh mạch cổ nổi...) ở một bệnh nhân tăng huyết áp biến chuyển nặng lên do thiếu máu, căn nguyên chính là bệnh lao phổi tiềm tàng.

Ở người cao tuổi, chiến lược điều trị mang tính chất mềm dẻo, không nguyên tắc, cứng nhắc. Trong thực tế, có 3 tình huống thường gặp. Nếu đã có kết quả xét nghiệm vi khuẩn hoặc mô học, đó là lao là dương tính, cần tiến hành điều trị đặc hiệu ngay. Nếu chưa có ngay kết quả xét nghiệm vi khuẩn, nhưng trên lâm sàng có các triệu chứng nghi bệnh lao (hình ảnh X-quang rất rõ ràng), thì có thể cho điều trị lao ngay, không cần chờ kết quả xét nghiệm, sau khi đã lấy các bệnh phẩm cần thiết để xét nghiệm tìm vi khuẩn lao. Nếu chưa có ngay kết quả xét nghiệm vi khuẩn và các triệu chứng đều không điển hình của lao, có thể tiến hành điều trị thử bằng thuốc chống lao. Ở người trẻ tuổi, cách xử trí này là không thể chấp nhận được, nhưng trong lão khoa lại được “chấp nhận”, bởi nếu để bệnh nhân chờ đợi quá lâu thì không có lợi, nhất là khi bệnh nhân nằm liệt giường, suy kiệt, trầm cảm.

Tuy nhiên, trong hai tình huống cuối, phải đồng thời chẩn đoán phân biệt với các bệnh khác để khỏi nhầm lẫn.

BS Phạm Cường, Sức Khỏe & Đời Sống

Việt Báo (Theo_VnExpress.net)

CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG TRÁNH BỆNH LAO

CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG TRÁNH BỆNH LAO

Biện pháp phòng tránh bệnh lao

Hiện nay, bệnh lao không còn là mối lo ngại của nhiều người nữa mà bệnh sẽ khỏi hoàn toàn và tránh lây lan cho cộng đồng nếu được phát hiện sớm và điều trị đúng cách. Do đó, để loại trừ bệnh lao không chỉ là trách nhiệm của người thực hiện chương trình mà rất cần sự chung tay góp sức của cả cộng đồng.  
Bệnh lao do vi khuẩn lao (vi khuẩn Kock) gây ra. Bệnh lao không di truyền, nhưng vi khuẩn lao có thể lây từ người mắc bệnh lao phổi sang người lành qua đường không khí khi ho, hắt hơi hoặc khạc đờm. Trong cơ thể, vi khuẩn lao chủ yếu gây bệnh ở phổi. Cũng như người lớn, trẻ em cũng có thể mắc bệnh lao, đặc biệt là trẻ em dười 5 tuổi, trẻ em bị suy dinh dưỡng, trẻ em có tiếp xúc với người lớn mắc bệnh lao phổi.
Một người nghi ngờ bị mắc bệnh lao khi thấy trong người mệt mỏi, gầy sút nhanh, ăn uống kém, ho kéo dài không rõ nguyên nhân mặc dù đã dùng thuốc trị ho và dùng kháng sinh. Những người sống ở môi trường ẩm thấp, xung quanh có nhiều người mắc bệnh lao cũng dễ bị mắc bệnh. Khi có các dấu hiệu trên, người bệnh nên đến gặp thầy thuốc để được khám và điều trị sớm.
Hiện nay có 2 phương pháp phát hiện bệnh lao là phương pháp chủ động và phương pháp thụ động được áp dụng cho cả thầy thuốc và bệnh nhân. Phát hiện bằng phương pháp chủ động là người thầy thuốc phải đưa các phương tiện như kính hiển vi, máy chụp X quang, làm xét nghiệm đờm trực tiếp tới người dân ở tận xã, phường, khóm, ấp. Tuy nhiên, phương pháp này đạt hiệu quả không cao do tốn kém cả về tiền bạc lẫn nhân lực. Phát hiện bằng phương pháp thụ động chính là do người bệnh nghi ngờ mình bị mắc lao khi thấy các dấu hiệu thì chủ động tới các cơ sở y tế để khám. Phương pháp này lại đạt hiệu quả rất cao vì chính họ tự sàng lọc giúp các nhân viên y tế và thầy thuốc có “mục tiêu” chỉ tiến hành trên những người thực sự có triệu chứng. Phương pháp này cũng tốn ít kinh phí, ít nhân lực cho ngành y tế.
Khi gia đình có người bị nhiễm lao phổi thì nên cho bệnh nhân ngủ riêng, nơi ngủ phải thoáng khí. Hạn chế cho trẻ em dưới 5 tuổi gần gũi với bệnh nhân. Nếu có điều kiện, những người trong gia đình nên đi khám để phát hiện và điều trị sớm bệnh lao. Trong suốt thời gian điều trị bệnh lao, người bệnh vẫn có thể làm việc bình thường. Nhưng nên nghỉ ngơi từ 1, 2 tháng đầu điều trị cho đến khi thấy khỏe hơn. Làm việc phải vừa sức, nghỉ ngơi hợp lý và ăn uống đầy đủ dưỡng chất. Bên cạnh đó, môi trường sống phải  trong lành, sạch sẽ, nhà cửa phải thông thoáng, đầy đủ ánh sáng, không tối tăm ẩm thấp, chật chội. Người mắc bệnh lao phổi cần khạc nhổ đúng chỗ vào bô, lọ có chất sát trùng và có nắp đậy; xử lý tốt các chất khạc nhổ, chất tiết, chất thải bằng hypochlorite natri 1%; đồ dùng, chăn màn của người bệnh lao phải được thường xuyên phơi dưới ánh nắng mặt trời,... Tiêm ngừa vaccine BCG cho trẻ sơ sinh để phòng bệnh lao hiệu quả.
Về phía cộng đồng, muốn phòng lao hiệu quả thì phải giảm được nguồn lây bệnh lao. Do vậy, phải phát hiện được người bệnh lao và chữa khỏi bệnh lao hoàn toàn cho những người này. Không thể thay thế việc này bằng bất cứ phương cách nào khác.

  THÚY DUY
Theo Khamchuabenh.com

Bệnh lao - nguyên nhân của bệnh lao và cách điều trị bệnh lao

Bệnh lao - nguyên nhân của bệnh lao và cách điều trị bệnh lao


Bệnh lao gây ra bởi vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis hay Bacille de Koch (BK) tấn công bất cứ phần nào của cơ thể nhưng thông thường nhất là phổi.

BK lan truyền trong không khí từ người này sang người nọ bởi bệnh lao phổi, họng mỗi khi hắt hơi. Những người gần đó hít phải BK sẽ trở nên bị nhiễm lao. Những người bị nhiễm lao không có triệu chứng nào cả, không lây lan nhưng họ có thể mắc bệnh lao vào lúc nào đó trong tương lai. Điều tốt cho mọi người nhiễm lao dù không triệu chứng vẫn nên uống thuốc ngừa để khỏi mắc bệnh lao sau này. Những người mắc bệnh lao phổi có thể chữa khỏi một khi họ chịu đi khám bệnh.


Vi khuẩn lao (BK) lan truyền như thế nào?

BK lan truyền trong không khí từ người này sang người nọ. Khi một người hít phải vi khuẩn lao (BK), chúng sẽ khu trú ở phổi và bắt đầu sinh sản. Từ đấy chúng có thể vào bằng đường máu đến nhiều nơi khác của cơ thể như thận, xương sống, não. Bệnh lao phổi, họng có thể lây lan khác với lao thận, xương sống hoàn toàn không lây. Người mắc bệnh lao thường lây cho những người tiếp xúc với họ thường xuyên như trong gia đình, bè bạn, đồng nghiệp.

Nhiễm lao là sao?

Đa số những người hít phải BK đều trở nên nhiễm lao, nhưng cơ thể họ có khả năng chiến đấu chống lại vi khuẩn lao, ngăn chận chúng sinh sản. BK trở nên bất hoạt nhưng vẫn còn sống trong cơ thể và sẽ hoạt động lại sau này. Đó là sự nhiễm lao.

Người bị nhiễm lao hoàn toàn không có triệu chứng nào, không cảm thấy bệnh, không lây cho người khác. Họ thường có phản ứng lao tố dương tính và có thể phát triển thành bệnh lao thật sự nếu không điều trị phòng ngừa. Cần biết có nhiều người nhiễm lao không bao giờ phát triển thành bệnh lao thật sự. Ở những người này, vi khuẩn lao bất hoạt suốt đời không gây ra bệnh. Trái lại những người khác, đặc biệt một khi hệ miễn dịch suy yếu, vi khuẩn lao hoạt động gây ra bệnh lao thực sự.

BK hoạt động trở lại nếu hệ miễn dịch không thể ngăn chúng sinh sản. Vi khuẩn lao hoạt động bắt đầu sinh sản trong cơ thể, gây ra bệnh lao thực sự.

Một vài người bị bệnh lao rất sớm, sau khi bị nhiễm lao trước khi hệ miễn dịch của họ có thể chiến đấu chống lại BK. Những người khác bị bệnh lao chậm hơn khi hệ miễn dịch của họ trở nên suy yếu vì một lý do nào đó. Ở trẻ em và người nhiễm HIV thường có hệ miễn dịch suy yếu. Những người ở trong các tình trạng sau đây đều có hệ miễn dịch kém: tiêm chích ma túy, bệnh tiểu đường, bệnh bụi phổi, ung thư vùng đầu, cổ, ung thư máu, bệnh thận nặng, cơ thể quá gầy, dùng một vài loại thuốc như corticoid, dùng thuốc ức chế miễn dịch sau ghép cơ quan.

I. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH LAO:

Nguyên nhân bệnh lao phổi làdo vi khuẩn gọi là mycobacterium. Người khoẻ mạng bị truyền vi khuẩn lao qua đường hô hấp trong môi trường không khí từ ho hoặc hắt hơi từ phía người nhiễm bệnh

Thời kỳ đầu nhiễm vi khuẩn thông thường không xuất hiện triệu chứng gì cả. Ở Mỹ, hầu hết nhiều người mắc bệnh sẽ hồi phục thời kỳ đầu nhiễm khuẩn. Tuy nhiên, vài trường hợp rủi ro hơn, căn bệnh trở nên bi kịch trong vòng mấy tuần lễ sau khi nhiễm khuẩn thời kỳ đầu, hoặc căn bệnh khiến bệnh nhân nằm nhiều năm.

Nhiều rủi ro của bệnh lao phổi có thể lây lan

   * Người cao tuổi.
   * Trẻ em.
   * Những người cơ quan miễn dịch yếu, chẳng hạn như mắc bệnh AIDS, hoá học trị liệu, hoặc uống thuốc chống lại nôn mửa sau khi cấy cơ quan.

   * Người mắc bệnh thường xuyên liên hệ với người khác.
   * Sống chung trong môi trường đông đúc hoặc không vệ sinh ở chỗ ở.
   * Chế độ ăn uống hằng ngày không đủ thành phần dinh dưỡng.

Yếu tố sau đây có thể tăng tỷ lệ nhiễm khuẩn lao trong công đồng

   * Nhiễm bệnh HIV.
   * Những cá nhân không nhà ở (môi trường sinh sống tồi tệ hoặc chế độ hằng ngày không đủ thành phần dinh dưỡng).

Ở Mỹ, trung bình khoảng 100.000 người có 10 trường hợp bệnh lao phổi. Tuy nhiên, tỷ lệ thay đổi đáng kể do khu vực cư trú và tầng lớp kinh tế xã hội:

   * Bệnh lao lây lan (ảnh hưởng toàn thân thể)
   * Nhiễm khuẩn mycobacterial.

II. TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH LAO:

   * Ho và sốt nhẹ.
   * Mệt mỏi.
   * Giảm cân.
   * Ho ra máu.
   * Sốt và đổ mồ hôi đêm.
   * Ho đờm dãi.
   * Đau ngực.
   * Đổ mồ hôi quá nhiều, đặc biệt ban đêm.
   * Thở khò khè.

III. CHUẨN ĐOÁN XÉT NGHIỆM BỆNH LAO:

Khi nào cần thử phản ứng lao tố?

Phản ứng lao tố là phản ứng da giúp biết được có nhiễm lao hay không. Nên thử phản ứng này mỗi khi bạn:

- Có một thời gian tiếp xúc với người bị bệnh lao.

- Có nhiễm HIV, bệnh tiểu đường, hay bệnh nào đó dễ nhiễm lao.

- Có các triệu chứng khiến bạn nghĩ là đã mắc bệnh lao.

- Có tiêm chích ma túy; ở nơi dễ nhiễm bệnh: đông đúc, chật chội, nhà lụp xụp.

Nhân viên y tế sẽ tiêm cho bạn trong da cánh tay một lượng chất tuberculin nếu là phản ứng Mantoux hay IDR (intradermo reaction). Sau 2-3 ngày, họ sẽ đo kích thước quầng đỏ nơi tiêm. Nếu quầng đỏ này dưới 10mm, coi như IDR âm tính: bạn không có nhiễm lao. Khi nào quầng đỏ trên 10mm, gọi là IDR dương tính: bạn đã bị nhiễm lao.

Khi bạn có phản ứng IDR(+), BS còn phải làm thêm vài xét nghiệm khác coi bạn có bị bệnh lao không như là chụp phổi, thử đàm tìm BK. Vì BK có thể khu trú ở nơi khác ngoài phổi nữa nên bạn cần thử máu như VS hay vận tốc lắng của máu, nước tiểu và một vài xét nghiệm nữa. Nếu bạn mới tiếp xúc với người bệnh lao, phản ứng này chưa (+), khoảng 2-3 tháng sau bạn nên thử IDR lần nữa. Nếu phản ứng này vẫn (-), chắc chắn bạn không bị lây nhiễm.

Xét nghiệm lao:

   * Chụp X-quang ngực.
   * Vi trùng đờm dãi.
   * Xét nghiệm da.
   * Phép soi phế quản.
   * Thủ thuật chọc ngực
   * Xét nghiệm máu gamma.
   * Sinh thiết mô bị nhiễm khuẩn (hiếm).

IV. ĐIỀU TRỊ BỆNH LAO:

Bệnh lao hiện nay chữa khỏi được bằng thuốc nhưng bạn phải tuân thủ đúng theo những lời dặn của BS điều trị. Những thuốc thường dùng để trị bệnh lao là: Isoniazid, Rifampin, Pyrazinamide, Ethambutol, Strpetomycin.

Bạn phải dùng nhiều thứ thuốc lao cùng một lúc để diệt vi khuẩn lao hữu hiệu hơn và tránh hiện tượng lờn thuốc. Nếu bạn bị lao phổi, họng nên ở nhà một thời gian nhằm tránh lây lan cho những người khác. Sau khi dùng thuốc được vài tuần lễ, bạn sẽ thấy khá hơn, không còn lây cho những người khác. BS điều trị sẽ cho bạn biết khi nào bạn làm việc lại được. Mắc bệnh lao không có nghĩa là bạn có một cuộc sống bình thường. Khi nào bạn không còn lây và không cảm thấy bệnh nữa. Bạn có thể làm việc lại như trước khi có bệnh.

Những thuốc bạn dùng không ảnh hưởng gì trên sức khỏe, sinh lý hay khả năng làm của bạn. Nếu bạn dùng đúng thuốc như BS đã dặn dò, các thuốc này sẽ giết mọi vi khuẩn lao và tránh được bệnh tái phát.

Tác dụng phụ của thuốc trị lao ra sao?

Thuốc trị bệnh lao tương đối an toàn, thỉnh thoảng có tác dụng phụ, thường nhẹ nhưng đôi lúc khá nhiêm trọng. Cần báo BS ngay mỗi khi bạn có những triệu chứng sau:

- Ắn mất ngon, mữa, vàng da mắt, sốt kéo dài hơn 3 ngày, đau bụng.

- Tê ngón tay, chân, nổi mẫn, da dễ bầm, đau khớp, chóng mặt, tê xung quang miệng, mắt mờ ù tai...

Nhưng tác dụng phụ sau đây được coi là nhẹ nên bạn tiếp tục uống thuốc điều trị:

- Rifampin sẽ làm nước tiểu, nước miếng, nước mắt vàng, tốt nhất là bạn không nên mang kính sát tròng khi dùng thuốc này.

- Rifampin làm da bạn nhạy cảm hơn với ánh sáng: nên mặc áo che các vùng da ra phơi nắng.

- Rifampin còn làm thuốc ngừa thai uống, cấy ít hiệu quả. Bạn nên thay đổi cách ngừa thai khác.

Tại sao bạn phải uống thuốc đều đặn?

Vi khuẩn lao bị thuốc tiêu diệt rất chậm. Cần ít nhất 6 tháng hay hơn nữa mới diệt hết mọi vi khuẩn. Bạn sẽ khỏe lại sau vài tuần lễ điều trị nhưng vi khuẩn lao vẫn còn tồn tại trong cơ thể bạn. Bạn vẫn phái uống thuốc tiếp tục đến khi mọi vi khuẩn lao bị tiêu diệt dù bạn có khỏe ra, không còn triệu chứng nào của bệnh lao.

Nếu bạn không tiếp tục dùng thuốc sau khi vừa mới khỏe và không uống thuốc đều đặn rất nguy hiểm. Vi khuẩn sẽ phát triển trở lại và bệnh lao của bạn lâu dài thêm nữa. Lúc ấy, các vi khuẩn trở nên đề kháng với mọi thuốc dùng. Bạn phải dùng đến các thuốc mới, dài lâu hơn và thuốc này rất nhiều tác dụng phụ thật nghiêm trọng. Nếu bệnh nhiễm lao trở lại, bạn còn có thể lan truyền vi khuẩn lao cho gia đình, bè bạn hay bất cứ ai đến gần bạn.

Làm sao nhớ uống thuốc nhiều?

Phương pháp tốt nhất giúp bạn khỏi bệnh là uống thuốc đúng như lời dặn của BS điều trị. Điều này thật không dễ tí nào nhất là khi phải dùng thuốc lâu dài: 6 tháng hay lâu hơn nữa. Sau đây, là một vài cách hữu hiệu giúp bạn nhớ uống thuốc:

- Tham gia vào chương trình điều trị có quan sát trực tiếp ở các cơ sở y tế.

- Dùng thuốc vào thời gian cố định mỗi ngày như uống thuốc trước khi ăn điểm tâm, sau khi đánh răng hay trước khi uống cà phê sáng.

- Yêu cầu người nhà hoặc bạn bè nhớ nhắc bạn uống thuốc.

- Dánh dấu hàng ngày vào lịch mỗi khi bạn uống thuốc.

- Đặt thuốc vào một chai thuốc để dùng cho một tuần. Giữ chai ấy ở đầu giường hay trong túi của bạn.

- Nên nhớ đặt các thuốc trị lao xa tầm tay với đến của các trẻ trong nhà.

Làm sao giữ không lan truyền vi khuẩn lao?

Cách tốt nhất là nên uống thuốc đều đặn đúng theo lời dặn của BS điều trị. Cần nhớ tái khám đều đặn để BS biết điều trị bệnh của bạn có hiệu quả không? Bạn có thể phải chụp hình thay thử đàm lại sau một thời gian điều trị. Điều này giúp bạn biết còn lây cho mọi người khác. Nếu bạn bị bệnh nặng, nên vào viện điều trị một thời gian để tránh lây lan cho người khác.

Một khi bạn có vi khuẩn lao trong đờm, những điều dưới đây giúp bạn tự bảo vệ và tránh lây lan cho người khác:

- Điều quan trọng nhất là phải uống thuốc đều đặn.

- Luôn luôn che miệng với khăn giấy mỗi khi ho, hắt hơi, cười. Bỏ những khắn ấy vào mộu túi nilông và cho vào thùng rác.

- Không làm việc hay học. Nên sống cách ly một thời gian , ngủ ở phòng riêng xa với những người thân trong gia đình.

- Để phòng thoáng khí: mở của sổ khi bên ngoài không quá lạnh. Vi khuẩn dễ lây truyền ở những nơi ẩm thấp, chật chội, tối tăm.

Cần biết là vi khuẩn lao lan trong không khí nên không bị lây khi bắt tay, ngồi chung toilet. Khi dùng thuốc được 2-3 tuần, bạn sẽ không còn lây lan, với sự đồng ý của BS bạn có thể tiếp tục cuộc sống thường nhật. Những người sống quanh bạn như gia đình, bè bạn thân thiết, hay công nhân làm chung cũng đi thử IDR cho họ để biết nhiễm lao không. Bệnh lao đặc biệt thật nguy hiểm cho trẻ em và người nhiễm HIV.

Thế nào là bệnh lao đa kháng thuốc?

Khi người bệnh lao không dùng thuốc theo như hướng dẫn, vi khuẩn lao sẽ trở nên đề kháng và thuốc điều trị không còn hiệu quả nữa.

Đề kháng thường gặp ở những người tiếp xúc với người bệnh lao đề kháng thuốc, không dùng đều đặn, không dùng mọi thuốc theo hướng dẫn, bị bệnh lao tái phát. Đôi khi vi khuẩn còn đề kháng nhiều loại thuốc, đấy là một vấn đề hết sức nghiêm trọng. Những người nyà phải dùng đến những thuốc mới đặc biệt có nhiều tác dụng phụ, thật khó chịu. Những người có tiếc xúc với người bệnh lao đa kháng, có thể lây nhiễm các vi khuẩn lao đa kháng. Nếu họ có phản ứng lao dương tính phải điều trị phòng ngừa ngay, nhất là trẻ em hay người nhiễm HIV.
Theo cẩm nang bênh

Triệu chứng của bệnh lao và cá thể lao

Triệu chứng của bệnh lao và cá thể lao


Khi xâm nhập vào cơ thể, vi trùng lao theo đường máu và bạch huyết có thể đến cư trú, phát triển và gây bệnh ở bất kỳ bộ phận nào của cơ thể. Tuỳ theo vị trí bị bệnh, người ta chia bệnh lao thành 2 thể chính là lao phổi và lao ngoài phổi.
Bác sĩ, Tiến sĩ Phạm Quang Tuệ, Phòng chỉ đạo tuyến Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Trung ương cho biết, 80% người bị lao là thể lao phổi, tuy nhiên, 20% còn lại là những thể lao khác nhau và mỗi thể lao đều có những dấu hiệu riêng của nó.

Những loại bệnh lao thường gặp


Lao ngoài phổi có thể gặp: lao hạch bạch huyết, lao màng phổi, lao màng não, lao màng bụng, lao ruột, lao xương khớp, lao hệ sinh dục - tiết niệu.

Những người bị bệnh lao ngoài phổi không có nguy cơ truyền bệnh cho người khác.

Bệnh Lao Phổi: Thể lao hay gặp nhất là lao phổi, chiếm tới 80% các trường hợp mắc bệnh lao. Những người mắc bệnh lao phổi xét nghiệm đờm có vi trùng lao là nguồn lây truyền bệnh cho người sống xung quanh. Người mắc bệnh lao phổi nhưng xét nghiệm đờm không tìm thấy vi trùng lao (do số lượng vi trùng trong ổ tổn thương ít) thì khả năng lây bệnh ít hơn rất nhiều.

Do vậy, không phải ai mắc bệnh lao phổi cũng có nguy cơ lớn lây truyền bệnh cho người khác, sự lây truyền bệnh còn phụ thuộc vào số lượng vi trùng lao ở người bệnh.

Triệu chứng của bệnh lao

Triệu chứng bệnh lao toàn thân: Cho dù bệnh lao có thể chỉ khu trú ở một bộ phận nào đó của cơ thể, gây ra những thể lao khác nhau và mỗi thể lao đều có những triệu trứng riêng, điển hình. Tuy nhiên, ngoài những biểu hiện riêng của từng thể lao, độc tố của vi trùng lao có thể gây nên các triệu chứng toàn thân như: sốt (thường là sốt nhẹ về chiều hoặc đêm), kèm theo là mệt mỏi, kém ăn, gầy sút cân, da xanh, thiếu máu…

Triệu chứng tại chỗ: Tuỳ theo vị trí hay cơ quan bị bệnh lao mà biểu hiện các triệu chứng tại chỗ khác nhau, ví dụ:

- Bệnh lao phổi thường có các biểu hiện: Ho khạc kéo dài trên 2 tuần, tức ngực, khó thở, ho ra máu, có đờm…

- Bệnh lao hạch: Người bị lao hạch thường xuất hiện hạch to dính với nhau thành từng khối chắc nổi rõ trên da, trong đó, có tới 95% bị hạch là lao hạch cổ. Khi ấn vào những khối hạch này bệnh nhân không thấy bị đau. Đây là lý do khiến người bệnh chủ quan, không nghĩ đến nguy cơ bị mắc bệnh lao hạch.
- Bệnh lao lao xương khớp: Triệu chứng điển hình là đau tại chỗ bị bệnh, hạn chế vận động, nếu bệnh diễn biến lâu ngày không điều trị có thể gây rò mủ tại chỗ, nếu bị lao cột sống có thể gây gù, vẹo cột sống, liệt vận động…

- Bệnh lao màng não: Có các biểu hiện dấu hiệu thần kinh như: đau đầu, nôn, táo bón, nặng có thể hôn mê, co giật…
Hồng Hải 
Theo Dân Trí

Bệnh lao - Triệu chứng và những biểu hiện của bệnh lao

Bệnh lao - Triệu chứng và những biểu hiện của bệnh lao

Lao là bệnh gì?

Bệnh lao (còn gọi là TB) là bệnh do vi trùng (vi khuẩn) gây ra. Bệnh lao thường tấn công phổi, nhưng có thể lan sang thận, xương, cột sống, não và những bộ phận khác của cơ thể.

Bệnh lao (TB) lây như thế nào?

Bệnh lao (TB) lây qua không khí khi người bị lao phổi chưa chữa trị, ho hoặc hắt hơi. Người hít phải vi trùng lao thông thường hàng ngày phải ở rất gần với người bị bệnh. Bệnh lao không lây qua chén bát, ly tách, muỗng đũa, ra giường hoặc quần áo.

Bệnh lao tấn công cơ thể bằng cách nào?

Nhiễm lao
Nhiễm lao tức là có vi trùng bệnh lao trong người. Thông thường hệ miễn dịch (đề kháng) có thể chiến đấu chống lại vi khuẩn, khiến cho chúng trở nên không hoạt động. Trong khoảng chừng 90% trường hợp, vi trùng bệnh lao sẽ không hoạt động vĩnh viễn. Người bị nhiễm lao không lâm bệnh và không thể lây bệnh lao cho người khác. Trường hợp này gọi là nhiễm lao tiềm tàng.

Bệnh lao (TB)

Bệnh lao (TB) là bệnh do vi trùng lao hoạt động gây ra. Người bị nhiễm vi trùng lao có thể bị bệnh trong một thời gian ngắn sau đó, hoặc nhiều năm sau, khi hệ miễn dịch bị suy yếu vì nguyên do khác như tuổi già, bệnh tiểu đường, nhiễm HIV, bệnh thận hoặc ung thư. Người bị bệnh lao (TB) có vi trùng lao hoạt động CỘNG THÊM triệu chứng bệnh.

Các triệu chứng bệnh lao (TB) là gì?

Bệnh lao (TB) có thể tấn công bất cứ bộ phận nào của cơ thể nhưng phổi là nơi bệnh lao thường tấn công nhất. Người bị lao có thể có một số hoặc tất cả các triệu chứng dưới đây.

Cảm thấy mệt triền miên
Ăn không ngon miệng
Giảm cân vô cớ
Ho kéo dài hơn ba tuần lễ
Sốt
Ra mồ hôi về đêm
Đôi khi người bị lao có thể ho ra đờm vấy máu. Một số người bị lao dạng vi trùng hoạt động có thể chỉ có những triệu chứng nhẹ.

Những xét nghiệm thông thường của bệnh lao là gì?

Thử Da Tuberculin (Xét Nghiệm Mantoux) cho biết một người rất có thể đã bị nhiễm lao
Chụp hình phổi có thể cho thấy bệnh lao (TB) đã tấn công phổi hay chưa
Thử đờm cho biết vi trùng lao (TB) có trong đờm hay không
Ai nên đi xét nghiệm dò tìm bệnh lao (TB)?
Người có triệu chứng bệnh lao (TB).
Người sống và làm việc gần người được biết hoặc nghi ngờ bị lao phổi.
Người bị nhiễm HIV hoặc bệnh khác khiến họ dễ bị lây bệnh lao (TB).
Cách trị bệnh lao (TB)?
Nhiễm lao (TB): bác sĩ có thể kê toa thuốc hoặc tái khám bằng cách chụp hình phổi định kỳ.

Bệnh lao (TB): uống một vài loại thuốc trụ sinh đặc biệt cùng một lúc ít nhất 6 tháng. Điều quan trọng cần nhớ là bệnh lao (TB) có thể dễ trị dứt hẳn nếu được trị liệu từ đầu đến cuối và uống thuốc đúng theo chỉ định. Tuy nhiên bệnh lao (TB) có thể tái phát và khó trị hơn nếu không uống thuốc đều đặn suốt thời gian điều trị.

Có phải bệnh nhân lao (TB) lúc nào cũng có thể lây bệnh cho người khác?

Người bị lao (TB) phổi hoặc cổ họng có thể lây bệnh cho người khác. Người bị lao những bộ phận khác của cơ thể thì không truyền nhiễm. Trong đa số trường hợp, sau khi uống thuốc trị lao (TB) hai tuần lễ, bệnh nhân lao sẽ không còn lây bệnh cho người khác. Nếu một bệnh nhân có thể lây bệnh cho người khác, thì y tá của Chương Trình Lao sẽ thẩm định xem ai phải đi xét nghiệm và sắp xếp thủ tục. ‘Người Tiếp Cận’ thường là người trong gia đình nhưng có khi là bạn bè hoặc bạn đồng nghiệp thân quen. Truy tìm người tiếp cận là việc lúc nào cũng được thực hiện một cách tế nhị và kín đáo.

Có thể chủng ngừa lao (TB) hay không?

Thông thường người dân Úc không cần phải chủng ngừa BCG (chủng ngừa lao) nếu rủi ro tiếp xúc với bệnh lao thấp. Chúng ngừa BCG chỉ dành cho những nhóm nhất định, dễ bị bệnh lao (TB).

Bệnh lao và những con số

Bệnh lao và những con số

Theo thông báo của Tổ chức Y tế Thế giới, bệnh lao đang là vấn đề khẩn cấp toàn cầu, mỗi năm trên thế giới có thêm gần 9 triệu người mắc bệnh lao (trong đó có 1 triệu là trẻ em) và gần 2 triệu người chết do lao.

Mỗi năm Chương trình Chống lao quốc gia phát hiện được gần 100 nghìn bệnh nhân lao mới
Nguyên nhân hàng đầu làm tăng số người mắc bệnh lao và chết do lao là do sự lan tràn dại dịch HIV/AIDS, vì người mắc nhiễm HIV sức đề kháng suy giảm nên có nguy cơ mắc bệnh lao cao gấp 30 lần so với người không bị nhiễm HIV. Nguy hiểm hơn nữa là người nhiễm HIV mắc bệnh lao rất dễ phát sinh vi khuẩn lao kháng thuốc.
Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ người mắc bệnh lao cao trên thế giới. Mỗi năm Chương trình Chống lao quốc gia phát hiện được gần 100 nghìn bệnh nhân lao mới.

Bệnh lao do vi khuẩn lao gây ra. Bệnh lao không di truyền, nhưng vi khuẩn lao có thể lây từ người mắc bệnh lao phổi sang người lành qua đường không khí. Trong cơ thể vi khuẩn lao chủ yếu gây bệnh ở phổi. Người mắc bệnh lao phổi dễ lây vi khuẩn lao sang người khác khi khạc đờm, khi ho hoặc hắt xì hơi.

Cũng như người lớn, trẻ em cũng có thể bị mắc bệnh lao, đặc biệt là trẻ em dưới 5 tuổi, trẻ em bị suy dinh dưỡng, trẻ em có tiếp xúc với người lớn mắc bệnh lao phổi.

Những trường hợp sau cần đến cơ sở phòng chống lao (bệnh viện lao của tỉnh, khoa lao trong bệnh viện huyện hoặc Trung tâm y tế dự phòng huyện để khám phát hiện bệnh lao:

Người lớn khi có dấu hiệu ho khạc kéo dài trên 2 tuần, có thể sốt nhẹ về chiều, gầy sút cân, tức ngực, ho ra máu...

Trẻ em có tiếp xúc với người mắc bệnh lao phổi, hoặc trẻ em hay bị bệnh viêm nhiễm đường hô hấp, ho và sốt kéo dài không rõ nguyên nhân, gầy sút cân, ngủ gà...

Bệnh lao nguy hiểm nhưng có thể chữa khỏi hoàn toàn nếu bệnh phát hiện sớm và chữa theo đúng chỉ dẫn của thầy thuốc chuyên khoa lao dùng phối hợp các thuốc chống lao, cùng thuốc đúng liều, đều hàng ngày và đủ 8 tháng). Nếu chữa bệnh lao không đúng cách làm cho vi khuẩn lao trở nên kháng thuốc sẽ rất nguy hiểm cho tính mạng người bệnh và những người xung quanh.

Bệnh lao có thể phòng được bằng cách:

- Phát hiện sớm người mắc bệnh lao phổi và chữa cho khỏi bệnh để không còn khả năng lây vi khuẩn lao cho người khác.

- Giữ gìn sức khỏe, đảm bảo dinh dưỡng đầy đủ, nhà ở thông thoáng.

Tiêm phòng vắc-xin BCG cho trẻ em dưới 1 tuổi theo lịch tiêm chủng mở rộng.

Theo Xã luận